1.Tranh chấp hợp đồng thương mại

Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóado một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

Tóm tắt câu hỏi:

X là một công ty chuyên kinh doanhtrang thiết bị văn phòng ở một tỉnh miền núi yêu cầu Y là công ty kinh doanhcùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đã từngmua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngày xácđịnh qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giao hàngvà phương thức thanh toán. Y không trả lời và không giao hàng. X đòi khởi kiệnvà dẫn chứng: trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản ” Y sẵn sàng cungcấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khinhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vịhàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồngnày”, Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuốicùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Ycùng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thểcác điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanhtoán…X cho rằng mình đã trả thêm 0,1% nên có quyền đòi hỏi như vậy. tranh chấpnói trên được khởi kiện ra tòa, vậy ai sẽ là người thắng kiện, trách nhiệm củabên vi phạm sẽ như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 24 LuậtThương mại 2005 về Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá đượcthể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bánhàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theocác quy định đó.

Theo quy định này thì hình thức hợpđồng mua bán hàng hóa có thể là: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vicụ thể. Vậy việc X gửi cho Y 1 bức thư yêu cầu về việc giao hàng hóa thì coi nhưhành vi đề nghị giao kết hợp đồng.

Y không trả lời lại đề nghị giao kếthợp đồng của X. Điều 404 Khoản 2 “Bộ luật dân sự 2015” : “Hợp đồng dân sự cũngxem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn imlặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.

Tuy nhiên, cũng không thể chỉ dựavào sự im lặng để kết luận về việc hợp đồng có được giao kết không. Mà xéttrong thực tiễn vụ việc này giữa Công ty X và Công ty Y đã từng kí kết và thựchiện hoạt động mua bán bàn ghế văn phòng nhiều lần trước

”Công ty X yêu cầu Y là công ty kinhdoanh cùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đãtừng mua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngàyxác định qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giaohàng và phương thức thanh toán”.

Hơn nữa trong hợp đồng trước đã cónói tới điều khoản “ Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồngnày vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện Xphải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó tronglần giao hàng theo hợp đồng này“

Như vậy,có thể thấy rằng trong yêucầumà công ty X gửi cho công ty Y có các nội dung về mặt hàng, số lượng hànghóa. Nhưng không nói đến vấn đề giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thứcgiao hàng. Tuy nhiên giữa hai bên đã có thói quen trong hoạt động thương mạiđược thiết lập.

Trừ trường hợp có thoả thuận khác,các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đãđược thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng khôngđược trái với quy định của pháp luật. ( Điều 12 Luật Thương mại)

Như vậy, trong yêu cầu mà X đưa rathì những vấn đề về giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng cóthể coi là được thực hiện theo thói quen thương mại giữa hai bên và sự im lặngcủa Y làm cho X sẽ hiểu là hàng vẫn sẽ được giao như những hợp đồng trước đó.

Vậy Y lập luận hợp đồng nói trên đãchấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng nàychỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cũng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếurất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giácả, chất lượng, phương thức thanh toán.

Với những căn cứ nêu trên thì có thểthấy rằng lập luận của Y sẽ là không hợp lý, không có căn cứ pháp luật và khôngđược chấp nhận khi giải quyết tranh chấp.

Khi các bên đưa tranh chấp nêu trênra Tòa án thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005 mà đưa rabản án buộc bên vi phạm hợp đồng – bên Y thực hiện các nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, Bên vi phạm sẽ phải chịumột trong các loại chế tài trong thương mại (Điều 292 Luật Thương Mại )

– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

-Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

– Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

– Huỷ bỏ hợp đồng.

– Các biện pháp khác do các bên thoảthuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tếmà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốctế.

Thứ hai, bên vi phạm có thể bị phạtvi phạm hợp đồng nếu có căn cứ tại Điều 300 Luật Thương Mại “Phạt vi phạm làviệc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợpđồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quyđịnh tại Điều 294 của Luật này”.

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụhợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận tronghợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừtrường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.

Thứ ba, bên vi phạm sẽ phải bồithường thiệt hại cho bên kia nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thườngthiệt hại.

1. Bồi thường thiệt hại là việc bênvi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bịvi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại baogồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên viphạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếukhông có hành vi vi phạm.

Điều 303. Căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệmquy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinhkhi có đủ các yếu tố sau đây:

1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;

2. Có thiệt hại thực tế;

2.Giải quyết tranh chấp tín dụng

1. TÍN DỤNG VÀ TRANH CHẤP TÍN DỤNG

1.1. Hợp đồng tín dụng

Khoản 14, Điều 4 về "Giải thíchtừ ngữ", Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 quy định "Cấp tíndụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền thao nguyêntắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, baothanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Cácnghiệp vụ cấp tín dụng khác như tái chiết khấu, ứng trước, mua có bảo lưu quyềntruy đòi (trừ các khoản mua có kỳ hạn) công cụ chuyển phát hành thẻ tín dụng,nhượng và giấy tờ có giá khác. Dưới đây gọi là tín dụng và hợp đồng tín dụngthay vì cấp tín dụng và hợp đồng cấp tín dụng không chính xác theo quy định củapháp luật hiện hành (vì trước đây gọi sai riêng hợp đồng cho vay là hợp đồngtín dụng, nên đã buộc phải gọi hợp đồng tín dụng nói chung là hợp đồng cấp tíndụng).

Đối với các TCTD, hợp đồng bảo lãnhngân hàng được điều chỉnh theo quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối vớibảo lãnh ngân hàng, đồng thời theo quy định chung tại điều 335 về "Bảolãnh", Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Các quan hệ tín dụng khác ngoài hợpđồng cho vay và bảo lãnh ngân hàng như chiết khấu, cho thuê tài chính, baothanh toán thì không được quy định trong BLDS năm 2015, mà chủ yếu được hướngdẫn bằng các văn bản dưới luật. Trường hợp TCTD cấp tín dụng không đúng với quyđịnh của luật thì có thể bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 về "Giaodịch dân sự vô hiệu do giả tạo", BLDS năm 2015. Chẳng hạn như việc cấp tíndụng cho vay dưới hình thức đặt cọc hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng đểmua, thuê nhà như đã xảy ra trong vụ án tại Ngân hàng Xây dựng.

1.2. Tranh chấp tín dụng

Tranh chấp tín dụng được hiểu làtranh chấp về các hợp đồng tín dụng gồm hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuêtài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.

Đối với hợp đồng cho vay, thì tranhchấp có thể là nợ gốc, nợ lãi, lãi suất, về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồngcho vay như điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, hình thức bảo đảm, giá trịtài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các nội dung khác. Tuy nhiên, trên thựctế hợp đồng cho vay nói riêng, hợp đồng tín dụng nói chung, thường xảy ra cáctranh chấp giống nhau tập trung vào số nợ gốc, các loại lãi suất, phí và việc xửlý tài sản bảo đảm.

Đối với các TCTD thì hợp đồng chovay được điều chỉnh theo các quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối với hợpđồng tín dụng, đồng thời theo quy định chung tại Điều 463 về “Hợp đồng vay tàisản”, BLDS năm 2015.

Riêng đối với hợp đồng bảo lãnh ngânhàng, khi các TCTD phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay, thì sẽ chuyểnsang ghi nợ cho bên được bảo lãnh, do đó trở thành nghĩa vụ như đối với một hợpđồng cho vay. Khi đó lãi suất đối với nợ gốc trong hạn, lãi suất đối với nợ gốcquá hạn, lãi suất đối với nợ lãi quá hạn và lãi suất đối với khoản nợ chậm thihành án sẽ được xử lý hoàn toàn giống với hợp đồng cho vay của các TCTD.

Trường hợp hợp đồng tín dụng vô hiệuthì hậu quả pháp lý là không tính lãi cho vay hay phí bảo lãnh theo quy địnhtại Điều 131 về “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, BLDS năm 2015.

1.3. Tranh chấp bảo đảm tín dụng

Ngoài ra, quan hệ tín dụng thườnggắn với tài sản bảo đảm tín dụng, nên cũng thường xảy ra tranh chấp về việc bảoquản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm. Điều 292 về “Biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ”, BLDS năm 2015 quy định có 9 bên pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụbao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưuquyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Việc bảo lãnh có thể làbảo lãnh ngân hàng hoặc bảo lãnh của pháp nhân hay cá nhân khác.

Tuy nhiên trong quan hệ tín dụng thìchỉ liên quan đến 5 biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh vàtín chấp và cũng được gọi là các hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng tín dụng không liênquan trực tiếp đến 3 biện pháp ký cược, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tàisản. Riêng biện pháp đặt cọc, có thể áp dụng trong quan hệ tín dụng tuy nhiêngần như không xuất hiện trên thực tế.

Vì bảo lãnh ngân hàng là một biệnpháp bảo đảm nhưng đồng thời cũng là một hợp đồng tín dụng, nên có thể lại sửdụng các biện pháp bảo đảm khác như ký quỹ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩavụ trả nợ trong quan hệ giữa các bên.

1.4. Mối quan hệ giữa tín dụng vàbảo đảm

Trường hợp chỉ có tranh chấp về hợpđồng bảo đảm, không có tranh chấp về tín dụng, thì vẫn phải khởi kiện giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chứ không khởi kiện độc lập hợp đồng bảođảm, vì tín dụng là hợp đồng chính, bảo đảm là hợp đồng phụ. Hay nói cách khác,hợp đồng bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng tín dụng vì là một bộ phận của hợp đồngtín dụng.

Dù tín dụng là hợp đồng chính, nhưngnếu bị vô hiệu thì không dẫn đến việc vô hiệu hợp đồng bảo đảm là hợp đồng phụtheo quy định tại khoản 2, Điều 407 về “Hợp đồng vô hiệu”, BLDS năm 2015.

2. CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANHCHẤP TÍN DỤNG

2.1. Phương thức giải quyết tranhchấp

Cũng giống như các loại tranh chấphợp đồng khác, các tranh chấp tín dụng có thể là tranh chấp dân sự hoặc tranhchấp kinh doanh, thương mại, đều có thể giải quyết bằng các phương thức thươnglượng, hòa giải, trọng tài và tòa án theo quy định của pháp luật. Không có quyđịnh cụ thể của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.

Việc giải quyết tranh chấp bằng hòagiải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017của Chính phủ về hòa giải thương mại

2.2. Giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài

Riêng với phương thức giải quyếttranh chấp bằng trọng tài thì áp dụng đối với trường hợp các bên thỏa thuậngiải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với tranh chấp giữa các bên phát sinhtừ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên có hoạt động thương mại và tranhchấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài theo quy định tại Điều 2 về “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp củatrọng tài”, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Cho đến nay, chưa có quy định nàobắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, mà chỉ là quy định các bêncó thể lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như Luật thương mại năm2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật các Công cụ chuyển nhượng năm 2006, Luậtbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầutư năm 2014, Bộ luật hàng hải năm 205, v.v...

Tranh chấp được giải quyết bằngtrọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có thểđược lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp theo quy định tại khoản 1, Điều 5về “Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài”, Luật Trọng tài thương mạinăm 2010.

Kết hợp các điều kiện trên thì thựcchất chỉ có duy nhất một trường hợp giải quyết bằng trọng tài, đó là lý do cácbên thỏa thuận đối với tranh chấp trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại. Như vậy tranh chấp hợp đồng cho vay tiêu dùng của các TCTD cũng được giảiquyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận.

Các bên có thể chỉ thoả thuận giảiquyết tranh chấp bằng Trọng tài mà không cần phải ghi chính xác tên của Trungtâm Trọng tài thương mại trên thực tế. Trường hợp các bên vừa có thoả thuậngiải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấpbằng Toà án thì có quyền khởi kiện ra trước một trong hai bên Trọng tài hoặcToà án giải quyết theo quy định tại khoản 4, Điều 2 về “Xác định thẩm quyềngiải quyết tranh chấp giữa Trọng tài, Toà án theo quy định Luật Trọng tàithương mại”, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán,TANDTC “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại”.

Nếu hợp đồng tín dụng có tài sản bảođảm của bên thứ ba, thì chỉ giải quyết được bằng Trọng tài khi tất cả các bêncó thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

2.3. Giải quyết tranh chấp bằng Toàán:

Tranh chấp tín dụng được giải quyếttại Toà án thì thuộc quyền giải quyết của Toà nhân dân huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh theo quy định tại điểm a và b, khoản 1, Điều 33 về “Thẩmquyền của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”, Bộ luật tố tụng Dânsự (BLTTDS) năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và điểm a và b, khoản1, Điều 35 về “Thẩm quyền của TAND cấp huyện”, BLTTDS năm 2015, trừ trường hợpcó đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quanđại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án, cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài.

Việc giải quyết tranh chấp bằng Toàán không phụ thuộc vào việc thoả thuận của các bên. Luật quy định, Toà án nơibị đơn cư trú, làm việc, hoặc có trụ sở có thẩm quyền giải quyết, trừ trườnghợp các bên có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toá án nơi cưtrú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp theo quyđịnh tại điểm b, khoản 1, Điều 39 về “Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ”,BLTTDS năm 2015.

Riêng đối với Toà kinh tế thì khácvới thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là chỉ giải quyết tranh chấpphát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăngký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, theo quy định tại khoản 1,Điều 30 về “Những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Toà án”, BLTTDS năm 2015.

3.Tòa án hay Trọng tài giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Câu hỏi tình huống Tòa án hay trọngtài giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh:

Doanh nghiệp A có trụ sở tại ViệtNam ký kết 1 hợp đồng mua bán hàng hóa với doanh nghiệp B có trụ sở tạiSingapore, Trong hợp đồng các bên thỏa thuận như sau: ” Mọi tranh chấp phátsinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng các biện phápthương lượng, nếu bất thành, tranh chấp sẽ được giải quyết bằng Trung tâm trọngtài quốc tế Việt Nam theo quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL có hiệu lựctại thời điểm đó. Nếu các bên không đồng ý với phán quyết của trọng tài thìtranh chấp sẽ được giải quyết chung thẩm tại Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam.Như vậy:

1) Thỏa thuận trên có phải là ” thỏathuận trọng tài” hay không? Giải thích?

2) Giả sử khi có tranh chấp hợpđồng, doanh nghiệp B nên lựa chọn Tòa án hay Trọng tài thương mại giải quyết?Nêu không gửi đơn kiện lên trọng tài như đã thỏa thuận mà gửi lên Toa án nhândân TP. Hà Nội nơi có trụ sở của doanh nghiệp A. Tòa án nhân dân TP. Hà Nội thìcó được giải quyết không?

Trả lời:

1. Thỏa thuận trên có phải là “thỏathuận trọng tài” hay không?

Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thươngmại 2010 quy định:

2. Thoả thuận trọng tài là thoảthuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phátsinh hoặc đã phát sinh.

Theo quy định trên thì thỏa thuậntrọng tài được hình thành dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, có sự thốngnhất giữa ý chí (mong muốn bên trong) và sự thể hiện ý chí (hình thức bênngoài) về việc sử dụng hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp. Điều nàyđược đưa ra xuất phát từ bản chất của sự thỏa thuận. Các bên lựa chọn Trọng tàiđể giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh. Do đó đối với trường hợp của bạn,đây là thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khixảy ra tranh chấp theo quy định tại Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010. “1.Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyếthay không?

Theo quy định tại Điều 6 Luật trọngtài 2010 “Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấpđã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từchối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọngtài không thể thực hiện được.”

Và “Điều 18. Thoả thuận trọng tài vôhiệu

1. Tranh chấp phát sinh trong cáclĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

2. Người xác lập thoả thuận trọngtài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọngtài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọngtài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đedoạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyênbố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điềucấm của pháp luật.”

Theo quy định trên nghĩa là khi đãcó thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của TTTM, nếu mộttrong các bên khởi kiện ra Tòa thì Tòa án phải từ chối thụ lý, chỉ khi thỏathuận này không có hiệu lực thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án. Theo quy địnhtrên, Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện trong trường hợp đã có thỏa thuận trọngtài nhưng thỏa thuận này vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Như vậy, ngoàitrường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM 2010 thìthỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được cũng được xem là một trường hợpthỏa thuận trọng tài không có hiệu lực. Vấn đề này được quy định tại Khoản3,4,5 Điều 43 Luật TTTM 2010, đặc biệt Điều 4 Nghị quyết 01/2014 của Hội đồngthẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định cụ thể, thỏa thuận trọng tài khôngthể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong 5 trường hợp:

+ Các bên đã có thỏa thuận giảiquyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tàinày đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa và các bênkhông thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyếttranh chấp;

+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể vềviệc lực chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranhchấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên khôngthể tham gia giải quyết tranh chấp hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thểtìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận đượcviệc lựa chọn Trọng tài viên khác thay thế;

+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể vềviệc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ratranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tàitừ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựachọn Trọng tài viên khác để thay thế;

+ Các bên có thỏa thuận giải quyếttại một trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng củaTrung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đã thỏathuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyếttranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khácvà các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tàithay thế;

+ Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ vàngười tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong cácđiều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy địnhtại Điều 17 Luật TTTM 2010 nhưng khi phát sinh tranh chấp người tiêu dùng khôngđồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

4.Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợpđồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu cácbên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranhchấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tụctố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

* Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiệnvì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 429 BLDS năm 2015 quy định:“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là03 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủthể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liênquan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, người Việt thường cả nểnhau trong kinh doanh và vì vậy thường không quyết định khởi kiện ngay khi đốitác vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Văn hóa người Việt cũng quan niệm “vô phúc đáotụng đình” nên rất dè dặt khi khởi kiện. Chỉ khi diễn biến vụ việc đi quángưỡng chịu đựng của bên bị xâm hại, họ mới quyết định khởi kiện và khi đó, cóthể đã quá thời hạn hai năm.

Thứ hai, nhiều người Việt quan niệm“công lý không có thời hạn” và không ý thức được rằng sau hai năm, nếu họ khôngkhởi kiện thì sẽ mất khả năng đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, ngay cả trong trường hợp mộtdoanh nhân có tinh thần sẵn sàng khởi kiện và hiểu được hết nội dung của điềuluật nêu trên, thì không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được chính xác thờiđiểm nào quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại; điều thường xảy ra khinghĩa vụ hợp đồng được thực thi thành nhiều đợt; khiếm khuyết của sản phẩm khóphát hiện ngay. Thời điểm lợi ích bị xâm hại cũng khó xác định đối với các vụán yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng.

* Rủi ro trong xác minh, củng cốchứng cứ vụ án dân sự

Khi phát sinh tranh chấp hợp đồng,nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn. Việc xác minh, củng cố chứng cứ nhằmtìm ra sự thật là một việc khó khăn nói chung và liên quan đến tất cả các chủthể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng; nhưng công việc này càng khó khăn vớinguyên đơn – vốn không có quyền lực nhà nước để buộc một chủ thể nào đó cungcấp tài liệu, chứng cứ liên quan. Mà chứng cứ vụ án thì nằm rải rác ở nhiều chủthể liên quan, trong đó nhiều chứng cứ do bên bị đơn nắm giữ và vì do có lợiích đối kháng, nên bị đơn sẽ tìm cách né tránh cung cấp các chứng cứ có lợi chonguyên đơn.

Bởi vậy, các hệ thống pháp luật tốtụng dân sự trên thế giới, trong đó có BLTTDS năm 2015 của Việt Nam, đều quyđịnh tòa án có trách nhiệm giúp đỡ các đương sự thu thập chứng cứ vụ án dân sự.

Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng ở ViệtNam cho thấy, tòa án chưa được trao đầy đủ công cụ, sức mạnh cần thiết để hoànthành bổn phận trợ giúp này. Bởi Điều 308 BLHS năm 1999 hiện nay chỉ mới quyđịnh trách nhiệm hình sự đối với hành vi từ chối cung cấp tài liệu (một loạichứng cứ bằng văn bản), trong khi chứng cứ vụ án dân sự còn bao gồm nhiều loạikhác.

Và ngay cả việc từ chối cung cấp tàiliệu, BLTTDS năm 2015 lại tự giới hạn khả năng trừng phạt thêm một lần nữa.Theo đó, người không thi hành quyết định của tòa án về việc cung cấp chứng cứsẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền (khoản 1); việc truy cứu trách nhiệm hình sự còntùy theo mức độ vi phạm. Hay nói cách khác, việc chống lại quyết định có hiệulực của tòa án không tự động áp dụng Điều 304, Điều 308 BLHS năm 1999.

* Rủi ro từ khai man, tạo chứng cứgiả

Thực tiễn tố tụng dân sự cho thấy,các đương sự có thể khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả mạo gây khó khăn chotòa án khi tìm hiểu sự thực, dẫn tới kết quả xét xử bị sai lệch. Để hạn chếhiện tượng này, BLHS năm 1999 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi“thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụán hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án” (Điều300) và hành vi “khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ làsai sự thật” (Điều 307).

Tuy nhiên, hai tội danh nêu trên chỉáp dụng đối với “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toàán, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đươngsự” (Điều 300) và “người giám định, người phiên dịch, người làm chứng” (Điều307) mà không áp dụng khi bản thân đương sự có hành vi này.

Việc không truy cứu trách nhiệm hìnhsự đối với hai nhóm hành vi nêu tại Điều 300 và Điều 307 đối với bị can, bị cáotrong các vụ án hình sự là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc “một ngườikhông bị buộc đưa ra lời khai buộc tội (hình sự) lại chính mình”, nhưng sự mởrộng để áp dụng máy móc nguyên tắc này sang các vụ án dân sự là không phù hợpvà dẫn đến đương sự trong các vụ án dân sự đã lạm dụng thực hiện hai nhóm hànhvi nêu trên mà không phải chịu trách nhiệm hình sự nào. Điều này giải thích tạisao trong các vụ án dân sự ở Việt Nam, đương sự không ngại khai báo gian dối,nhất là trong các vụ án có giá trị tranh chấp lớn.

Không hiếm trường hợp, các bên tranhchấp hợp đồng đã ngụy tạo các giấy biên nhận, giấy giao nhận hàng hóa, nợ viếttay và giả mạo chữ ký của đối tác. Sở dĩ hiện tượng ngụy tạo này xảy ra nhiều,vì Điều 266 BLHS năm 1999 chỉ quy định về: “Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứngnhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức” mà không hề quy định tội sửa chữa,sử dụng giấy xác nhận giả của cá nhân; Điều 267 quy định tội làm giả con dấu,tài liệu của cơ quan tổ chức mà không bao gồm hành vi làm giả giấy tờ của cánhân. Theo ngôn từ của Điều 266, chỉ có giấy tờ của cơ quan nhà nước mới đượcchú trọng, còn giấy tờ, con dấu của doanh nghiệp chưa được đề cập trực tiếp:“Người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịchhoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụnggiấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bịxử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạttiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba nămhoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Hành vi khai man, sửa chữa, thêm bớtlàm sai lệch chứng cứ trong các vụ án dân sự thường được pháp luật hình sự trênthế giới coi là hành vi phỉ báng tòa án và áp dụng trách nhiệm hình sự đối vớinhóm hành vi này.

- Rủi ro sau khi thắng kiện

Khi một hợp đồng xảy ra tranh chấp,các “khổ chủ” phải trải qua rất nhiều công đoạn, với rất nhiều rủi ro pháp lý,họ có thể thắng kiện. Nhưng từ khi thắng kiện, với bản án có hiệu lực pháp luậttrong tay đến khi thu hồi được tài sản, bù đắp được tổn thất còn là một quảngđường khá xa. Trước khi đi vào phân tích chi tiết, chúng ta có thể hình dungtổng quan về bức tranh này qua kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tại Hội thảo “Luật thi hành án dân sự – Góc nhìntừ doanh nghiệp” do VCCI phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày10/3/2014. “Đó là, tỷ lệ thành công khi thuê “xã hội đen” thu hồi nợ cao đến90% và thời gian chỉ từ 15 đến 30 ngày, trong khi đó nếu sử dụng phương án khởikiện tại tòa và cơ quan thi hành án, thì hiệu quả thu hồi chỉ khoảng 50% vàthời gian kéo dài tới… 400 ngày.…

Khi sử dụng phương án khởi kiện tạitòa án và cơ quan thi hành án, chủ nợ phải bỏ ra khoản chi phí bằng 20 – 30%khoản nợ nhưng chưa kể tiền lót tay và các khoản chi phí không chính thức khác.Còn nếu sử dụng “xã hội đen”, chi phí bỏ ra khoảng chiếm 40 – 70% khoản nợ, vàkhông có chi phí phụ nào. Còn với một phương án thu nợ khác là thuê các dịch vụthu nợ hợp pháp, thì thời gian trung bình khoảng 60 – 90 ngày, tỷ lệ thành công70 – 80%’’.